Welcome to C2 of HVT
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Welcome to C2 of HVT

Chúc các bạn có những giây phút thật vui vẻ khi tham gia 4rum
 
PortalTrang ChínhGalleryTìm kiếmLatest imagesĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
""ert""
Chưa đến tuổi vị thành niên
Chưa đến tuổi vị thành niên
VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2) 15-43

Nam Tổng số bài gửi : 57
Tiền : : 50602
Uy tín : 100
Birthday : 03/12/1991
Ngày tham gia : 30/07/2009
Tuổi : 31
Đến từ : ki son town

VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2) Vide
Bài gửiTiêu đề: VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2)   VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2) I_icon_minitimeSun Aug 09, 2009 9:14 pm

Trong nhận thức về quá trình dân tộc ở Việt Nam, giới khoa học lưu tâm đến mấy đặc điểm quan trọng về mặt lịch sử sau đây:

1. Việt Nam là một nước đa tộc người, gồm 54 tộc người, trong đó người Việt chiếm đa số tuyệt đối với tỉ lệ khoảng 87% dân số và các tộc người sống đan xen, không hình thành không gian lãnh thổ riêng của từng tộc người. Tộc người Việt giữ vai trò trung tâm tập hợp và cố kết các tộc người trong một quốc gia thống nhất và tiếng Việt dần dần trở thành tiếng nói chung của quốc gia, tuy trong từng vùng địa-văn hoá tộc người, tiếng nói của từng tộc người vẫn bảo tồn và tiếng nói của tộc người chiếm ứu thế trong vùng được sự dụng như tiếng nói trong giao tiếp vùng cùng với tiếng Việt.

2. Do điều kiện khách quan của sự phát triển nông nghiệp lúa nước gắn liền với nhu cầu thuỷ lợi và nhu cầu tự vệ chống ngoại xâm(10), sự liên kết cộng đồng giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc. Thể liên kết cộng đồng Việt Nam chủ yếu theo ba cấp cộng đồng theo trục dọc: Nhà - Làng - Nước. Nhà = Gia đình là tế bào của xã hội. Làng là cộng đồng kết hợp quan hệ láng giềng (xóm làng) với quan hệ huyết thống (họ), mang tính tự quản cao. Nước là quốc gia dân tộc. Năm 1804 vua Gia Long cũng nhận thức sâu sắc sự liên kết cộng đồng làng và nước khi nói: "Nước là họp các làng mà thành. Từ làng mà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước"(11).

3. Sau khi hình thành, Nhà nước phát triển theo xu hướng chủ yếu là quốc gia quân chủ tập quyền, thống nhất (hiểu theo nghĩa tương đối của từng thời kì lịch sử).

4. Sản phẩm tinh thần được người Việt Nam coi trọng nhất của quá trình lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, quá trình hình thành, phát triển của quốc gia dân tộc là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc. Từ thế kỉ XV, Nho giáo được nâng lên địa vị chính thống và có ảnh hưởng sâu sắc về nhiều mặt, nhưng vẫn được vận dụng trên tinh thần dân tộc. "Trung quân" gắn liền với "ái quốc" và khi xẩy ra mâu thuẫn, đối lập giữa hai giá trị đó thì "ái quốc" giữ vai trò chi phối, quyết định thái độ chính trị của đại đa số các tầng lớp nhân dân. Chế độ quân chủ thời thịnh trị mang tính "thân dân", lấy "nước" và "dân" làm gốc (như thời Lí, Trần). Việt Nam coi trọng "trung", "hiếu" nhưng gắn với với "nước", "dân", đồng thời nêu cao "nhân", "nghĩa", có thời lấy "nhân nghĩa" làm ngọn cờ cứu dân, cứu nước (Nguyễn Trãi thế kỉ XV).
2. Khái niệm "Nhà nước", "Quốc gia", "Dân tộc" và Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thời cận đại

Trước hết, tôi xin lưu ý, khái niệm "cận đại" thường dùng trong phân kì lịch sử Việt Nam chỉ mang tính quy ước để chỉ thời kì lịch sử chống chủ nghĩa thực dân, bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1858 cho đến hết thời thống trị của chủ nghĩa thực dân, kết thúc với thắng lợi của Cách mạng tháng 8-1945. So với lịch sử phương Tây và cả nhiều nước châu Á thì thời kì cận đại hiểu như thế có phần không phù hợp.

Các khái niệm "Nhà nước", "quốc gia", "dân tộc" đều là các từ Hán-Việt mới được sử dụng phổ biến từ đầu thế kỉ XX và đều có nguồn gốc từ Nhật Bản rồi hoặc trực tiếp du nhập vào Việt Nam hoặc thông qua các Tân thư của Trung Quốc.

Từ "quốc" và "gia" vốn có trong tiếng Hán từ lâu nhưng ghép thành từ "Quốc gia" để chỉ Nhà nước (State/Etat) hay cộng đồng quốc gia là từ mới. Trong tiếng Việt, từ State/Etat thường dịch là Nhà nước, nhưng từ "quốc gia" thường có hai nghĩa: Nhà nước hay cộng đồng quốc gia. Từ thời Trần, trong di chúc của Trần Quốc Tuấn đã dùng từ "quốc gia" theo nghĩa là "nước-nhà" trong câu "quốc gia tính lực" nghĩa là nước và nhà chung sức.

Riêng từ "dân tộc" theo hiểu biết của tôi cho đến nay thì người Việt Nam đầu tiên sử dụng là nhà yêu nước Phan Bội Châu trong bài "Lưu Cầu huyết lệ tân thư" khoảng trước năm 1905(12). Từ "dân tộc" do các trí thức cấp tiến Nhật Bản sáng tạo trên cơ sở chữ Hán để dịch từ "Nation" trong tiếng Anh. Nhưng ở Việt Nam, trong quá trình sử dụng, từ "dân tộc" mang nhiều nghĩa khác nhau:

- Là một đơn vị tộc người nói chung, không phân biệt cấp độ loại hình cộng đồng như trường hợp nói: dân tộc Việt, dân tộc Tày, dân tộc Thái, Việt Nam có 54 dân tộc...

- Là cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều cộng đồng cư dân, tộc người sống trên một lãnh thổ do một nhà nước quản lí, như trường hợp nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Cămpuchia...

- Là một cộng đồng mang tiêu chí của "Nation" như phương Tây.

Cùng với từ "Dân tộc" (Nation) là từ "Chủ nghĩa dân tộc" (Nationalism/Nationalisme). Ở phương Tây, chủ nghĩa dân tộc là sản phẩm tinh thần của quá trình hình thành và phát triển của dân tộc tư sản. Chủ nghĩa dân tộc đã từng giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến, thống nhất quốc gia, dân tộc, giải phóng con người khỏi những quan hệ lệ thuộc phong kiến, xây dựng xã hội dân sự và phát triển văn hoá dân tộc. Tại các nước thuộc địa và lệ thuộc ở châu Á, châu Phi, châu Mĩ La tinh, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, chủ nghĩa dân tộc cũng nẩy sinh và phát triển, giữ vai trò động lực trong phong trào giải phóng dân tộc.

Tại Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc cũng từng phát triển mạnh mẽ trong thời kì đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Nội dung cơ bản của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước truyền thống được nâng cao trên cơ sở kết hợp với những nhân tố mới của thời đại, trong bối cảnh và yêu cầu chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc. Vì vậy năm 1924 Nguyễn ái Quốc đã từng nêu cao chủ nghĩa dân tộc như "động lực lớn của đất nước"(13), đã khơi dậy và thúc đẩy các tầng lớp nhân dân sôi nổi tham gia các phong trào yêu nước.

Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử thế giới, chủ nghĩa dân tộc bên cạnh nội dung chân chính và tích cực của nó, cũng chứa đựng những khuynh hướng phát triển tiêu cực theo chủ nghĩa sô vanh (chauvinisme), chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc...Trong nhiều vụ xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo trên nthế giới hiện nay, chủ nghĩa dân tộc theo các xu hướng tiêu cực trên đang bị khai thác và kích động. Vì vậy trong cách hiểu thông thường và phổ biến hiện nay, chủ nghĩa dân tộc (nationalism/ntionalisme) hay "phần tử dân tộc chủ nghĩa" (nationalist) được hiểu theo nghĩa tiêu cực.

Việt Nam trước đây đã từng nêu cao chủ nghĩa dân tộc trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc mà nội dung cơ bản là chủ nghĩa yêu nước, nhưng trong bối cạnh thế giới hiện nay, lại nêu cao chủ nghĩa yêu nước như một động lực tinh thần để đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước, chấn hưng dân tộc. Trong nội dung của khái niệm "chủ nghĩa yêu nước" hiện đại bao gồm cả chủ nghĩa dân tộc truyền thống và những nội dung tích cực của chủ nghĩa dân tộc thời kì chống chủ nghĩa thực dân.

_____________________________

(1) Trần Huy Liệu: Dân tộc Việt Nam hình thành từ bao giờ? Tạp chí Văn sử địa số 5, 1-1955; Bàn thêm về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, tạp chí Văn sử địa số 18, 6-1956.
Đào Duy Anh: Vấn đề dân tộc trong lịch sử Việt Nam, tập san Đại học sư phạm số 4, 11-12/1955; Những bước lớn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, tập san Đại học sư phạm số 5, 1-3/1955; Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội 1956.
Minh Tranh: Khởi nghĩa Tây Sơn và sự hình thành dân tộc Việt Nam, tạp chí Văn sử địa số 24, 1-1957.
Nguyễn Lương Bích: Những tiêu chuẩn để nhận định sự hình thành dân tộc, tạp chí Văn sử địa số 12, 12-1955; Quá trình phát triển của các cộng đồng người là tiến từ bộ lạc lên bộ tộc, từ bộ tộc lên dân tộc hay tiến thẳng từ bộ lạc lên dân tộc, tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 49, 4-1963.

(2) J. Chesneaux: Contribution à l' histoire de la nation vietnamienne, Paris 1955
A.A. Gouber: Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, phát biểu trong tọa đàm tại Viện sử học Việt Nam ngày 19-10-1962 (tư liệu Viện sử học Việt Nam)

(3) J. V. Xtalin: Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, trong J.V. Xtalin toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội 1976, tr. 357.

(4) Tổng kết cuộc tranh luận về một số vấn đề dân tộc, tạp chí Những vấn đề lịch sử (tiếng Nga), Moskva 1970.

(5) Văn Tân: Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3, 6-1968.
Đặng Nghiêm Vạn: Những chặng đường hình thành dân tộc Việt Nam thống nhất, tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2-1978.
Phan Huy Lê: Hình thành dân tộc, một phạm trù lịch sử trong không gian và thời gian, tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 8-1980
Hà Văn Tấn: Về khái niệm"dân tộc" (nation) của Mác, Enghen và sự hình thành dân tộc Việt Nam, tạp chí Dân tộc học số 2-1980; Dân tộc ta hình thành từ bao giờ, tạp chí Tổ quốc số 403, 4-1980.

(6) Pierre-Richard Feray: Le Vietnam au XXè siècle, Paris 1979, p.22

(7) Thomas Hogkin: Vietnam, the revolutionary path, London 1987, p. 6

(Cool Phan Huy Lê: Cuộc hội thảo về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5, 9-10-1981; Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, tạp chí Dân tộc học số 1, 1981

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, T. 1, tr. 465.

(10) Về chống ngoại xâm, chỉ tính từ kháng chiến chống Tần thế kỷ III Tcn đến nay, Việt Nam đã phải tiến hành 17 cuộc kháng chiến giữ nước, trong đó có 3 lần thất bại dẫn đến thời Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm, thời Minh thuộc 20 năm và thời Pháp thuộc hơn 60 năm. Thời gian kháng chiến giữ nước và chống đô hộ nước ngoài chiếm khoảng 12 thê kỷ.

(11) Đại Nam thực lục, Nxb Sử học, Hà Nội 1963, T. III, tr. 162

(12) Phan Bội Châu: Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, 1990, T. 2, tr. 161

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T. 1, tr. 466.

• GS. Phan Huy Lê
Về Đầu Trang Go down
trungthinh_SAT'
Chưa đến tuổi vị thành niên
Chưa đến tuổi vị thành niên


Tổng số bài gửi : 66
Tiền : : 50612
Uy tín : 104
Ngày tham gia : 30/07/2009

VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2) Vide
Bài gửiTiêu đề: Re: VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2)   VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2) I_icon_minitimeSun Aug 09, 2009 11:47 pm

a ơi RỒ vừa thui Arrow What a Face
Về Đầu Trang Go down
 

VAN DE HINH THANH DAN TOC VIET NAM(PHAN 2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Welcome to C2 of HVT :: ♥ Tin tức - Thời sự ♥ :: Thời sự trong nước-

Thông điệp:

****************Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách ****************

Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!

Thông tin diễn đàn
Copyright ©2009 - 2010,Cận 2 forum. All rights reserved.
Design by Phạm Hoàng Hà [Admin]
Bản quyền by ™Hoàng Hà Pro™ NickYM!:chuchimse_thikvuive.
RSS RSS 2.0 XML MAP
Powered by phpBB Version 2.0 Lisenced
Copyright ©2009 - 2010.
Gửi cho bạn trang này |Click vào tải Firefox 3||Lưu ý:Xem diễn đàn tốt nhất ở độ phân giải 1024x768 và sử dụng Fire Fox 3


Free forum | ©phpBB | Free forum support | Báo cáo lạm dụng | Thảo luận mới nhất